Sóng đời


                                                                                                                             - Gửi Am Hàn -

           Hắn lại cười. Hắn không vui lắm mà vẫn cười, nụ cười lướt thướt đều đều. Hắn lật giở những trang sách, con chữ nhộn nhạo trước mắt nhưng chứa đựng mọi điều mà hắn đang kiếm tìm, đôi lông mày chau lại, những lúc đó trông hắn già đi chừng mười tuổi, thấy một câu hay, một ý lạ, hắn thích, cười như muốn chia phần khoái cảm với gió, với không khí. Gió nhẹ thổi và không khí phủ màu khói bếp. Hắn giở đến trang cuối cùng, các con chữ chạy nhặng xị cả lên, hắn lơ đễnh bỏ qua. Ngày trước, những lúc đó bố thường bảo, đấy là sự chây lười vĩnh cửu của những kẻ không thèm khát cuộc sống, lúc đó hắn chỉ cười, nụ cười lười biếng, nhếch nhác.

Ngoài kia, trời nhá nhem tối. Chút ánh vàng còn sót lại của chiều tà va vào mấy phiến lá chuối rách nát, những phiến lá khi còn xanh mẹ đã nâng niu, giữ gìn, xoạc lên những con tóc bờm xờm của hắn như để ve vãn. Chiều quê đến độ chân thành, lắm lúc hắn thấy tần ngần như mai ma. Nhiều khi chợt ngập ngừng, thấy lòng khang khác khi một đôi bận không kịp nhìn chiều trên quê. Có lẽ hắn sợ mình mắc tội với buổi chiều đi qua khung cửa nhỏ, cái khung cửa mà tụi bạn hắn ví như ô vuông cửa nhà tù (cái ô vuông nho nhỏ trông ra chỉ thấy một khoảng trăng trắng ở cửa phòng buồng Mị- cô gái Mèo của Tô Hoài mà hắn đã từng biết) như thế đồng nghĩa với việc là đã không biết bao nhiêu thời gian hắn cầm tù mình, nghĩ lại cũng thấy tiêng tiếc những giây phút ấy, ít ra cũng để trời nhìn ngắm hắn trước lúc buông đêm, ít ra cũng để nhâm nhi mùi rạ mới của những đồng vừa mới gặt, cái mùi tinh tươm, thơm phức lạ lùng mang hồn quê. Hắn thường hay sợ, sợ vô cớ, cái sợ cố hữu, sợ ngay cả với những cuốn sách trông có vẻ đáng ghét dưới con mắt của những kẻ ít học. Hắn thường chôn mình trong phòng, căn phòng đầy những con chữ cắt bằng giấy đỏ, cái màu đỏ của ánh sáng trên án thờ đang treo đầy các bức trướng thờ cúng từ đời nảo đời nao của tổ tông để lại, ngắm cuộc đời ngoài kia trong vô định.

       Đêm thẩm. Tiếng gà kêu ré vì nhầm chuồng. Kể cũng lạ, không biết bao nhiêu lần hắn đã nghe, những câu chuyện kể mười mươi sự thật thì cũng hơn dăm phần là chuyện bịa như thật rồi. Trong cái làng này, khối kẻ nhầm nhà, nhầm phòng nhưng yên tịnh, hoạ chăng sau đó chỉ nghe vài tiếng xáo xào của những kẻ buôn chuyện, nào là cái gã già kia chắc phải mang trong mình ba mươi sáu cái nõn nường, còn ả kia cái con mắt sắc dao cau thì làm sao mà không xàng xê cho được...ôi dào, thiên hạ cứ là đảo điên cả lên... Cái làng Thọ Linh này, truyền thống văn hoá cũng đã dày lên hàng ngàn năm rồi ấy chứ. Bằng chứng là đã có bao nhiêu ngôi đình thờ các cụ tổ làm quan, làm tướng, là Tiến sĩ rồi đấy. Vậy mà hắn lại không thể bén gót các cụ. Nghĩ mà thấy thế nào ấy.

Hắn bật dậy, hắn chúa ghét thứ công việc gia đình lẩn thẩn, chộn rộn, nhưng thời gian vẫn đang trôi, hắn vẫn phải bắt gà vào chuồng, bấm đèn kiểm tra các chốt cửa, thậm chí phải khua khúng khoắng cả gian bếp tối mịt như thứ hắc ín người ta dùng để rải đường, rượt đuổi lũ gặm nhấm thường chui lủi chạn bếp. Nghĩ cũng lạ, khi ở trong nhà, người ta lại rượt đuổi, chửi thầm tám chín đời cái thứ sản sinh ra loài gặm nhấm, vậy mà khi ra đồng, dân làng lại không dám gọi tên tục của nó ra mà nguyền rủa, lại cứ ông ông bà bà, hình như là do cái tục kiêng cữ gì đó...hắn cũng không rõ lắm. Thật là. Hắn cũng chúa ghét cái thứ việc đàn ông không ra đàn ông, đàn bà cũng chẳng phải đàn bà, vậy mà cái thằng nam nhi trai tráng như hắn phải ôm lấy. Lắm lúc nghĩ cũng thấy đời bất công, trai tráng gì như hắn, lật khật lờ khờ, ủng ủng eo eo, cái đầu hơi chúi xuống, cái lưng cứ cồm cộm thế nào ấy, còng còng trông ra phía trước, vì thế mà khi hắn ra đường cũng không ít kẻ thay đổi ngôi thứ cho hắn khi xưng hô, vô tình hắn lại được ra đời sớm hơn ngày mẹ lên bàn đẻ để hắn chào đời.

         Nhà còn hắn với ông bà Nhân. Cả làng khen ông bà Nhân được phước, có ba người con thì hai đã làm cán bộ trên tỉnh, đều phương trưởng, quý hoá quá đi rồi còn gì. Chỉ còn hắn...hắn ôm sách vở lắm nên sống khoảnh với đời, bởi thế mà ông bà Nhân cũng lắm bận thấp tha thấp thỏm với cái nghề văn của hắn, cái nghề vắt sức lực con người ta đến cùng kiệt, chỉ trông mỗi việc là hắn có cái nghiệp như mấy đứa lớn, hoặc ít gì đi nữa thì cũng nên nhà nên cửa như lứa thanh niên ngang tuổi hắn trong làng.

       Ngày trước, hắn cũng ôm mộng làm giàu, ít gì đi nữa cũng có thể giúp bao kẻ hèn kém, mà cũng để đáp đền mong ước của ông bà Nhân. Vả lại, hắn làm sao quên được những dòng thư nhắc phận làm con ở hắn của chị gái. Song, biển đời mênh mông quá, cuộc đời thì cứ xoay chiều đổi hướng, lòng người trong thời này như một thứ phù du, hắn theo nghề văn từ lúc nào không hay, cái nghiệp văn làm hắn hỏng mọi ước mơ. Đã thế, hắn sống như người lập dị, cổ điển và thích chọn lọc sự đời. Văn chương làm hắn già suy nghĩ, nhưng văn hắn lại vẫn còn quá trẻ cái nghĩ suy và thế là kéo theo cái vị thế chưa ra gì của hắn trong đời sống văn đàn lúc bấy giờ. Quy luật đào thải của văn chương như muốn cướp lấy những đứa con tinh thần của hắn mà hắn lại không thích sự nhạo báng đặt vào câu chữ mình viết ra. Có người khen văn hắn hay như những người say rượu vẫn thường khen rượu ngon, kì thực, khi tỉnh rượu, cái dư âm còn lại là chút gì đắng rát của cặn cồn pha trong rượu. Có người lại chê văn hắn luộm thuộm tựa như gã ăn mày mang trên mình cuộc đời hơn nửa đời người lê lết phố tối. Hắn nghe có gì như vừa chân thành vừa giả dối. Thôi thì cứ mặc kệ. Đời mà. Giả thật thật giả lẫn lộn ai hay. Hắn chỉ cần nuôi lớn mong muốn là làm sao viết được một cái gì đó tựa như là tác phẩm mà người ta vẫn nói giống như bản chất hắn thôi. Đáng lẽ người ta đừng nên tách rời người viết văn với đứa con tinh thần của họ. Chính vì điều đó mà hắn luôn tỉ mẫn với những trang viết của mình. Song cũng đôi lúc, đôi lúc vì những hứng khởi bất thần, vì cái vội vã cuộc sống mà hắn cũng bươn bã theo, câu chữ hắn cũng chạy rống riết, vội vội vàng vàng đến độ tựa hồ như người ta nấu cơm nhão, vừa sống sượng, vừa nhạt thếch đến chán chường. Người ta cười khinh khỉnh. Hắn thấy chột dạ, những lúc đó, hắn thấy con người mình như cái chuông đồng hồ reo đều đặn, âm nào cũng giống âm nào, chỉ có khác là độ dài ngắn mà thôi. Hắn nghĩ, cái chuông ấy chẳng phải vang lên báo hiệu thời gian mà đối với hắn nó như là sự níu kéo, giữ lại cho hắn cái cảm xúc sáng tạo, cái điều suy ngẫm, kiếm tìm... Cũng đôi lúc, người ta nói văn hắn tàn nhẫn, độc ác và xấu xí như mụ phù thuỷ trong truyện cổ tích mà lũ trẻ thường đọc, cũng chẳng phải là hắn muốn thế đâu, bởi tại hắn không chịu đựng nỗi những điều mắt thấy tai nghe, những vết lồi lõm của hương hoa cuộc đời.

         Có lẽ, cuộc đời hắn là hành trình kiếm tìm. Hắn tìm trong bản chất cuộc sống mình vốn không kiêu kì cũng chẳng rộng lượng chút cảm thông với cái kiểu quen bốp chát, trưng diện có phần như kệch cỡm của đám bạn bè hắn. Hắn thường nghĩ, thứ đất mà hắn ươm mầm tài năng của mình như hạt ngọc đã chìm sâu, người đón nhận chưa tới. Thấy đất chỉ là nơi sống mà không ban tặng khiến hắn xoay xở vất vả, khó chịu. Thói thường, ít ai kiên trì thương yêu với những thứ không có lợi cho mình, người ta cứ chỉ muốn tất cả biến mất đi khi danh dự, tâm trí mình chưa hề hấn gì. Hắn nghĩ, hắn tự tin và nhẫn nại. Hắn viết văn là để nhẫn nại và yêu thương. Hắn đã học được điều này từ người thầy giáo già dạy văn trong những năm còn ngồi trên ghế phổ thông. Song nhiều lúc, hắn chợt giật mình, không biết sự theo đuổi của hắn như thế có làm hắn phung phí tuổi trẻ hay không khi mà sự thực cuộc đời cách xa mong ước và suy nghĩ của hắn.

           Xong việc, hắn lại ngồi vào cái ghế màu đỏ ối, cái màu thường đem cho người ta cảm giác của cái bàn thờ mỗi tối rằm, cái màu của những con chữ hắn cắt dán trên tường trong cái phòng của hắn một cách tỉ mẫn. Ông bà Nhân thường đi nghỉ khi hắn sửa soạn nhìn trời. Đêm nay lại rằm. Những đêm trăng rằm thường đem lại cảm giác thích thú và nhớ nhung cho hắn. Trăng để hắn trò chuyện, còn những cây nhang thơm mùi trầm hương trên bàn thờ tổ tông làm hắn nhớ những người đã khuất, nghĩ những cái ngày xửa ngày xưa chân chất như những cô con gái làng thơm mùi rạ mới khi vừa từ đồng gặt về. Cái mùi hương ấy giờ lại từ trên thiên đàn trước sân len vào, nhộn nhạo, cồn cào... Cây Tường Vi phả mùi theo. Hắn thích hoa nhưng không thích trồng, nhà độc chỉ có mỗi cây Tường Vi và mấy cụm Trang. Hai cái màu đỏ ấy cùng với cái màu trên nốc tủ, nơi đựng những bài vị của người đã chết cứ quyện chặt, thơ thẩn cùng hắn từng chiều. Và cả một thế giới tưởng tượng trong hắn mở ra, nhờn nhờn nhạt nhạt làm hắn thích thú. Nếu đấng toàn năng ban cho hắn đôi con ngươi sáng ắt hắn sẽ tạo ra cả thế giới hoa đỏ mang màu trầm hương linh thiêng trên bàn thờ để hắn có thể tự do ngắm, tự do hít thở, và tự do... Cái cách nghĩ và niềm thích thú ấy làm cho những ai khi đọc văn và tiếp xúc với con người hắn đều có cảm nhận hắn như một sinh vật lạ lẫm, biệt lệ, không nhập cuộc với trần thế ô trọc này.

       Hắn vặn nhỏ ngọn đèn dầu, như thế có thể nhìn trăng rõ hơn. Từ xưa tới nay, trăng với đèn không hợp nhau, trăng như nàng tiên kiêu sa chốn thiên cung, lộng lẫy trong bộ xiêm y trắng nuốt, mượt mà như những sợi tơ cứ giăng tràn ảo ảnh khiến hắn thấy mới tưởng tượng như thế thôi mà cổ họng hắn nghe cháy khát, còn đèn dầu như cô gái nghèo chốn làng quê mộc mạc, nhưng đầm ấm vô cùng. Đêm trăng, hắn không thích thứ ánh sáng tràn lan từ bóng nê-ông mà chỉ khơi chút ánh sáng mờ mờ từ ngọn đèn dầu đã ngã màu. Không biết đã bao nhiêu lần như thế, lâu dần thành quen. Người ta gặp cảnh ấy, bảo hắn ngất ngớ, hắn lại chỉ cười. Nhưng quen rồi, cái thói quen như người ta phải ăn cơm ngày hai bữa không thể từ bỏ, hắn đành làm thằng ngất ngớ vậy. Cũng có mất gì của ai đâu, có chăng thì hắn cũng chỉ phải mang thêm trên mình một cách gọi đời thường, để rồi lại được thêm những lần gọi trăng về từ viễn xứ. Không biết từ lúc nào, trăng như cô gái kiêu kì đỏng đảnh đánh lừa hắn nhiều phen, cứ quyến rũ hắn rồi lại ra đi không lời giã biệt, biết vậy mà hắn vẫn cứ rượt đuổi cái ảo ảnh không cùng đó, đôi lúc hắn thấy mình như dã tràng xe cát biển đông, biển vô cớ cuốn mất lòng tin.

Hắn hứng chí ngân nga,

                   Đến đây em qua giải Ngân Hà

                   ngàn tinh tú nối thành cầu nhỏ

                   bước nhẹ thôi ánh trăng mà vỡ  

                   rớt xuống trần cứ ngỡ là...

   - Anh Tâm đọc thơ hay vậy! Hắn giật mình nhưng kịp nhận ra giọng nói của Hạ, cô láng giềng nhỏ lém lỉnh.

   - Hạ sang chơi. Hắn chào, với tay bật công tắc, ánh đèn xô vụt bóng trăng trượt ngã ngoài hiên, tự nhiên hắn thấy tiêng tiếc. Liếc nhìn Hạ, hắn cười. Cô bạn gái cấp ba nay đã là giáo viên văn trường làng. Ông bà Nhân mến Hạ lắm, nhắc hắn đừng kiếm đâu xa xôi. Hạ năng sang chơi mà hắn thì cứ lững thững.

- Em sang trả anh tập giấy hôm nọ.

- Hạ thấy trăng thế nào? Tôi nghĩ trăng đêm nay đẹp lắm, tôi muốn ngập mình trong đó, ấy thế mà khi cầm bút tôi lại không thể vùng vẫy trong ấy được, chỉ là ảo ảnh đang vỡ loang mà thôi.

- Dạ em muốn...

- Tôi biết, giọng hắn có vẻ hơi gắt, hắn chợt khựng lại, hình như đã quá nhiều lần hắn cáu vô cớ, nhưng hình như Hạ không để tâm điều đó, hắn hạ giọng, Hạ thấy truyện tôi thế nào?

- Dạ hay lắm

Hắn định thốt lên, cô lại hiền với văn tôi quá, nhưng kịp nén lại. Hạ là độc giả trung thành của văn hắn, cũng đã không ít lần hắn làm tội làm tình cô vì lời nhận xét, hắn muốn cô bứt hắn ra khỏi những đam mê vô thức để văn viết chậm và dãn rộng ra để cho mọi người cùng đứng vào đó. Cô nói tiếp đi, hắn nhắc.

- Dạ cũng được, con người ta trong này có nhiều nét khác lạ lắm, có điều...Hạ ngập ngừng.

- Cô nói nhanh đi, hắn nói gần như ra lệnh.

- Dạ, Hạ có phần hơi cuống, anh cứ viết những chuyện đẩu đâu ấy, người ta cứ tưởng anh muốn tạo lại thời tiền sử, nhân vật của anh sao ít ra con người, còn cái chuyện lối sống Nho gia đã chìm nghỉm dưới lòng biển mặn rồi còn gì mà anh cứ khơi gợi lên thế? Cuộc sống và những người thường như chúng ta không có gì để anh nói cả hay sao?

- Hắn chăm chú nghe như nuốt cả lời của Hạ, mắt hắn sáng bừng lên. Hạ như đổ thêm vào hắn một cái gì đó, cái gì như mới hơn làm tràn ra ngoài những thứ lẩm cẩm, tủn mủn. Hắn thấy chưa có lúc nào Hạ nói nhiều như thế. Hắn như thấy mình hụt hơi theo lời Hạ. Phải, sao hắn cứ mãi bám riết những con người đã qua, những con người suốt đời không giám nói thật về mình. Đáng lẽ hắn nên viết những câu chuyện về chính hắn, về Hạ, về những con người gần gũi mà hắn thấy vừa yêu thương vừa đáng gét, yêu bởi lắm lúc họ cần mẫn chịu khó với cuộc đời, ghét bởi cái kiểu xoi mói chuyện bàn dân thiên hạ để rồi đưa những kiếp người đáng thương đó lên bàn cân mà phán xét, mà cân đong đo đếm, để rồi vô tình với nỗi đau con người… viết nhiều về cuộc sống này như thế văn hắn sẽ giản dị dễ hiểu hơn và như thế mọi người sẽ hiểu, sẽ gần hắn hơn.

   - Anh Tâm, còn điều này nữa, Hạ tiếp lời

   - Cô nói đi...Hắn nói như rên, hắn thấy nóng ran khắp người. Hắn thấy như mình đang đứng trong lò nung, những lò nung đưa lại nhiều nhiều sản phẩm mang vẻ đẹp truyền thống từ ngàn đời của cha ông.

   - Em muốn nói rằng, Hạ chậm rãi, anh chưa rộng lòng với nhân vật mình và hình như anh đã bỏ quên những tấm lòng trong thiên hạ. Anh không thấy là cuộc đời này cũng đáng yêu lắm, mọi người cũng thân thiện lắm sao? Tình yêu giữa thi sĩ Trần và cô gái hát rong mà anh đang viết cũng đẹp lắm nhưng còn quá gượng gạo và khắt khe, nghiệt ngã quá, y như anh không từ hành tinh này mà lớn lên vậy. Sao anh lại để nhân vật mình khóc nhiều, đau đớn nhiều như thời con người ta đang sống cảnh tối tăm, kiếp nô lệ vậy. Anh quên là cuộc đời đã được tự do rồi sao?

        -Ưh phải. Tôi cũng đã đau khổ khi để nhân vật mình mang nhiều vết thương cuộc đời, song như thế tôi mới hoà hợp mộng văn chương với tình đời thực tại. Tôi muốn viết hơn thế vì người đời còn phải chịu quá nhiều chua cay và tôi muốn nỗi đau của ai cũng như ai.

         -Anh àh, có thể là thế gian này vĩnh viễn không bao giờ hết nỗi đau song con người ta cần sống, có quyền được sống tốt đẹp, hạnh phúc và yên bình, anh cần phải đưa lại cho mọi người niềm tin, hi vọng dù chỉ từ những trang văn. Đó chính là vẻ đẹp, sức mạnh của văn chương mới đó anh.

         Có thể là Hạ đã đúng. Song hình như tôi đã quen nhìn cuộc đời từ cái con người phải hi sinh, phải mất mát, tôi đã quên mất một điều rằng, con người khi bị mất đi một cái gì người ta sẽ được một cái gì khác. Đó chính là quy luật công bằng mà tạo hoá ban tặng. Hình như có lần thầy giáo dạy văn tôi có bảo rằng, cuộc đời sòng phẳng lắm, không cho không ai cái gì và cũng chẳng tuyệt đường ai bao giờ. Không biết đó có phải là quy luật cuộc sống hay không? Nhiều lúc tôi cũng như đứa trẻ lên ba, chỉ bi bô tập nói mà không biết mình đang nói gì. Bởi thế mà tôi đã nhẫn tâm với những gì mình tạo ra mà mình không hề hay biết.

- Anh có thấy mình giống nhân vật Trần trong câu chuyện đó không vậy?

Hắn giật mình. ùh thật! Hắn đã không nhận thấy điều đó. Hắn đã mang trong mình cái bản mặt lạnh lùng đến thế sao? Cái bản mặt làm người ta thấy cuộc sống như khắc nghiệt hơn, tàn nhẫn hơn. Hình như điều này hắn cũng đã cho các nhân vật mình phát biểu khi tiếp xúc với nhân vật Trần. Đó là điều ti tiện và tệ hại nhất của con người trong cuộc sống. Vô tình hắn đã hoá thân vào nhân vật lúc nào không biết. Không biết điều đó sẽ như thế nào nhưng dù sao đi nữa, nhân vật vẫn cứ là nhân vật, còn hắn thi đang tồn tại với cuộc đời bằng xương bằng thịt. Hắn phải sống. Sống như ai đó từng bảo, cần có một tấm lòng. Hắn phải thay đổi ưh?

Chiều. Lại chiều. Chiều trên quê thật yên bình. Vì vậy mà người đàn bà như mẹ hắn suốt một đời vẫn không thể nào thoát khỏi 4 lũy tre làng. Mẹ thường bảo, nhớ lắm, nhớ hương bưởi, hương cam, mùi rạ mới và cả cái mùi phèn chua không mong muốn của làng nữa, song vậy vẫn nhớ chi lạ. Hắn quay lại nhìn cái cổng làng. Cái cổng làng của triệu năm nay, nơi đã ghi dấu bao nhiêu bước chân của cha ông, con cháu vùng Thọ Linh. Hắn cũng là một trong số người đó. Bất giác hắn giật mình vì tiếng gọi rất gần, rất thân quen. Anh!. Hạ áo lại như cơn gió. Bỗng có tiếng chào lớn: ấy ấy chà chà, chào anh nhà báo quê Thọ Linh, anh về hồi nào vậy ? nhớ ghé nhà tôi chơi..Hắn nhìn lại, thì ra ông trưởng thôn. Hắn cúi đầu đáp lễ, khi ngẫng lên thì ông cụ đã đi khuất sau cổng làng. Hắn mỉm cười. Chiều quê thật đẹp!

  Viết xong, tháng 8/ 2007.
   Đoàn Thanh Huyền

GV Văn. Trường THPT Đồng Hới.
© 2017 Thiết kế: 0942072207