THỂ LOẠI PHÓNG SỰ NHỮNG NĂM SAU ĐỔI MỚI - NHÌN TỪ MỘT TÁC PHẨM

THỂ LOẠI PHÓNG SỰ NHỮNG NĂM SAU ĐỔI MỚI - NHÌN TỪ MỘT TÁC PHẨM

                                                                   Lê Thị Thanh Loan

Tổ Văn-Trường THPT Đồng Hới

   Sự vận động thể loại gắn với từng thời kì văn học. Văn học trung đại trong lòng nó đã có dấu hiệu của thể loại phóng sự, thể hiện ở những thiên bút kí tùy bút (Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ…) nhưng phải đến những năm 30 của thế kỉ XX, phóng sự mới thực sự lên ngôi và trở thành một thể loại văn học đúng nghĩa (bắt đầu từ Tôi kéo xe của Tam Lang). Điều này xuất phát từ đặc trưng riêng, phóng sự là thể loại yêu cầu cao tính thời sự, tính trực tiếp, tính chính xác, tính có vấn đề…trong khi văn học trung đại lại nghiêng về ước lệ, sùng cổ, phi ngã, do vậy khó đáp ứng được là lẽ đương nhiên. Với đặc tính trên chỉ khi nào xã hội có những biến động, những đổi thay, nảy sinh bao vấn nạn, tức những tình huống có vấn đề, con người ở trạng thái hoang mang chao đảo, hẩng hụt mất niềm tin, thể loại phóng sự có cơ hội phát triển mạnh. Điều đó lí giải vì sao giai đoạn 1932-1945 và giai đoạn sau đổi mới phóng sự lại nở rộ thành công như thế.

   Những năm sau 1986, bao biến động của thời kì bao cấp cùng với sự sụp đổ của Đông Âu và Liên Xô cả một thế hệ tri thức chao đảo tưởng như nền tảng mình đang đứng lung lay, họ chới với mất điểm tựa. Không khí dân chủ thổi một luồng sinh khí mới vào đời sống văn học, bức tranh văn học được mở rộng đề tài và phạm vi phản ánh. Văn học chuyển từ điạ hạt sử thi ca ngợi tôn vinh, tô hồng sang cảm hứng hiện sinh, đi thẳng vào những vấn nạn của cuộc sống. Trong cái cảm thức đa đoan muôn mặt đời thương ấy, con người có xu hướng trở lại chính mình, đối mặt với bản thể để nhận chân cuộc sống, nhận chân hiện thực, nhận chân tất cả những bộn bề phức tạp đa chiều của cuộc sống một cách sâu sắc và quyết liệt, những giá trị vĩnh hằng tưởng như chân lí cũng cần phải xem lại, đã đến lúc cần có những lưởi dao sắc nhọn chọc thủng những ung nhọt của xã hội…Có lẽ đó là thế mạnh mà chỉ có phóng sự mới làm nổi. Bởi vậy trong cuộc chạy việt dã hừng hực sức sáng tạo những năm sau đổi mới, phóng sự cũng là thể loại gặt hái nhiều thành công bên cạnh truyện ngắn và tiểu thuyết. Những phóng sự có thể kể đến như Câu chuyện về một ông vua lốp, Lời khai của bị can, Cái đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, Suy nghĩ trên đường làng của Hồ Trung Tá, Thủ tục để làm người còn sống, Làng giáo có gì vui, Người đàn bà quỳ, Tiếng kêu cứu của một vùng văn hóa…trong đó không thể không kể đến Nước mắt của làng của tác giả Minh Chuyên, một phóng sự đầy cảm động đau xót nhức nhối về hậu quả khủng khiếp của chiến tranh.

Trước khi giới thiệu về tác phẩm có lẽ cũng cần nói lại về đặc trưng thể loại để làm rõ cái lí của người chọn tác phẩm giới thiệu.

Theo từ điển thuật ngữ văn học: phóng sự là thể thuộc loại hình kí, phóng sự ghi chép những vụ việc nhằm làm sáng tỏ trước công luận một sự kiện một vấn đề có liên quan đến hoạt động của một người hoặc nhiều người và có ý nghĩa thời sự đối với địa phương hoặc xã hội.

Đặc trưng của phóng sự là tính thời sự, tính chân xác, tính vấn đề, tính trực tiếp, tính định hướng. Như vậy phóng sự là một thể loại nằm giữa văn chương và báo chí, nó chỉ có sức sống lâu bền khi có tính nghệ thuật.

Vậy thì tính văn chương ở đâu, cần nhận thức rõ sức mạnh có ý nghĩa báo chí tuyên truyền và sức mạnh có ý nghĩa văn chương nghệ thuật. Nếu chỉ dừng lại thông tin, tuyên truyền thì phóng sự ấy chỉ nóng lên trong một khoảng thời gian nào đó, có nghĩa khi tính thời sự lắng xuống thì nó cũng lắng theo. Ý nghĩa đích thực làm cho một tác phẩm văn học sống mãi là tính vượt thời đại mà đã vượt thời đại thì nó phải đạt đến một cái gì lớn lao gõ vào chiều sâu nhân bản, bản thể con người nói chung. Và hơn nữa tác phẩm phải tạo được hiệu ứng nghệ thuật, hay phải đạt đến giá trị thẩm mỹ (bởi suy cho cùng nghệ thuật đích thực phải phụng sự cái đẹp). Yếu tố khu biệt phóng sự báo chí và phóng sự với tư cách là thể loại văn học chính là ở đó. Nói cách khác nhìn nhận giá trị đích thực của tác phẩm phóng sự ở đây không phải chỉ ở cái phản ánh mà quan trọng là cách phản ánh, cái đẹp nghệ thuật trong phương thức thể hiện, trong lựa chọn sự việc, trong xây dựng cốt truyện, cái tôi trần thuật, ngôn ngữ thể hiện…

   Phóng sự Nước mắt của làng đáp ứng được điều đó. Đó là một thiên phóng sự đặc sắc về số phận con người thời hậu chiến. Cụ thể hơn là về hậu họa khủng khiếp của chất độc hóa học sau chiến tranh. Chiến tranh đã đi qua tưởng rằng con người sẽ được sống trong không khí bình yên hạnh phúc của cuộc sống đời thường nhưng không ngờ lưỡi hái tử thần vẫn len lỏi đeo đẳng, bám riết những người còn sống, những người đi ra từ cuộc chiến. Bằng ngòi bút sắc sảo đầy cảm động Minh Chuyên đã đi thẳng vào vấn đề được xem là nóng bỏng thu hút sự quan tâm của cả xã hội, thậm chí nhân loại: sự tàn phá của chất độc hóa học mà đế quốc Mỹ đã rãi xuống Việt Nam. Với những con người cụ thể, sự kiện cụ thể, những con số cụ thể… Minh Chuyên đã đưa đến cho người đọc một câu chuyện xúc cảm chân thực về cảnh ngộ thương tâm của một gia đình người lính. Đó là câu chuyện của anh Bâu một người từng chiến đấu ở đường Chín Khe Sanh. Anh Bâu trở về từ chiến trường những tưởng sẽ không còn chết chóc hi sinh. Nào ngờ chiến tranh vẫn đeo đẳng theo anh về tận một làng quê rất xa mặt trận. Đó là làng Hưng Hai, xã Nam Phú, huyện Tiền Hải, Thái Bình, để tiếp tục lừa đuổi tàn phá gia đình anh. Mở đầu thiên phóng sự đã cho thấy nổi đau của nhân vật, và nổi đau ấy sẽ theo riết anh cho đến hết đời. Trở về từ chiến trường với cơ thể chẳng còn là anh Bâu ngày trước nhợt nhạt, lầm lì nhưng may mắn đã đến với anh, chị Trịnh Thị Năm với tình cảm mọc mạc chân thành đã quyết định vượt lên khó khăn kết duyên chồng vợ. Tình yêu của hai vợ chồng anh đã đơm hoa kết trái bằng những đứa con nhưng thật đau đớn đứa thứ nhất không có đầu chân tay ngắn củn cởn, có nghĩa nó là quái thai, ba đứa sau “mẹ tròn con vuông” nhưng rồi cũng rời anh chị đi nốt bởi những biểu hiện bệnh lí kì quặc: chậm chạp lờ đờ, ban đêm mở mắt thấy toàn đom đóm, ban ngày nhìn lóa những quầng xanh đỏ tím vàng, trong một người thành hai, có lúc trông thấy nhiều bố nhiều mẹ rồi sau đó mất luôn ánh sáng, từ chổ nói được chuyển sang trạng thái ngọng chỉ phát ra bấy nhiêu âm thanh ố ê, ê ê, suốt ngày thích ngâm mình dưới ao (ảnh hưởng chất độc hóa học). Nổi đau kế tiếp nổi đau. Những năm sau hai anh chị lại đón những đứa con mới, lại thấp thỏm lo âu, lại chờ đợi với niềm hi vọng mong manh và rồi vẫn tình trạng cũ lại tái diễn, chúng lại ra đi với những biểu hiện quái dị: lần mò xuống ao ngâm mình trong nước. Không chỉ những đứa con mà bản thân anh Bâu cũng bị cái chất độc hóa học ấy hành hạ, anh trở thành người không bình thường, cười đó khóc đó, sống trong vô thức, bị xuất huyết đau nhức toàn thân, thường xuyên phải cấp cứu ở bệnh viện. May nhờ sự cưu mang giúp đỡ của xóm làng (bất luận lúc nào khó khăn gia đình anh Bâu cũng nhận được sự sẽ chia, động viên kịp thời cả vật chất lẫn tinh thần của làng), chính quyền địa phương nơi anh cư trú mà vợ chồng anh tồn tại được qua ngày, song nổi đau thì chẳng bao giờ nguôi ngoai.

Bản thân câu chuyện đã cảm động nhưng với cách viết cách thể hiện của tác giả Minh Chuyên, một cây bút phóng sự đặc sắc hiện thực ấy càng có một sức tác động mạnh mẽ đến vô cùng.

Trước hết chúng ta nói đến sự năng động trong tiếp cận khai thác tư liệu. Về hậu họa của chất độc hóa học lâu nay người ta cũng nói nhiều nhưng tác giả Minh Chuyên không đi theo cách của nhiều người (viết chung chung số đông) mà đi thẳng vào một gia đình cụ thể, và từ cảnh ngộ một gia đình cụ thể đó thấy được ý nghĩa và sức mạnh của sự sẽ chia của cộng đồng. Từ đây tác giả khám phá một cách sâu nhất, rõ nhất ảnh hưởng khủng khiếp của chất độc hóa học đến con người. Tác hại không phải với chính bản thân người lính mà là thế hệ sau. Chị Năm sinh bảy đứa con thì sáu đứa là quái thai là dị tật và rồi chúng chết cả. Tác giả biết chọn, sắp xếp và đi sâu những thông tin quan trọng. Đó là những thông tin chính xác về quê quán nhân vật, về thời gian người vợ sinh con: “Tháng 3 năm 1976 chị Năm có mang đứa con đầu tiên”, thời gian những đứa trẻ chết: “ Cả hai nằm liệt giường đến ngày 13 tháng 9 năm 1994 thì trút hơi thở cuối cùng”, những con số cụ thể về sự thăm hỏi của các cơ quan đoàn thể cá nhân: “Ủy ban huyện Tiền Hải 3 triệu rưỡi, Hợp tác xã nam Phú 1,329 kilôgam thóc, cán bộ công nhân công ty dịch vụ Nội Bài 3 triệu đồng. Công ty dầu khí I 1,5 triệu đồng. Đoàn nhà văn quân đội 1 triệu. Chị Hằng Nga quận 1 thành phố Hồ Chí Minh 300000 đồng…”, về tên tuổi địa chỉ những người hàng xóm láng giềng hàng chục năm liền không tiếc sức lực tiền của giúp đở cho anh chị Bâu, về những biểu hiện bệnh lí của những đứa con…Những thông tin này là những con số biết nói, nó tạo nên tính chân xác và trực tiếp, là những yếu tố cần có của thể loại phóng sự, đảm bảo tính thuyết phục cao. Với phóng sự này, những tư liệu, những con số đã nêu là minh chứng rõ nét về sức mạnh hủy diệt của chất độc hóa học nhưng đó còn là sức mạnh của tình thương, của sự sẽ chia đùm bọc của dân làng, mọi người trước nổi đau đồng loại.

Thứ hai về nghệ thuật xây dựng cốt truyện, tính cách nhân vật, dẫn dắt tình tiết. Phóng sự là thể văn phi cốt truyện nhưng khi tiệm cận văn học nó lại chú trọng xây dựng cốt truyện dẫn dắt tình tiết. Phóng sự này là một minh chứng. Tác phẩm có một cốt truyện rõ ràng với những sự kiện cụ thể diễn biến theo thời gian từ lúc nhân vật Bâu từ chiến trường trở về, lấy vợ sinh con, con có những biểu hiện bệnh lí rồi chết, lại tiếp tục sinh con, lại có những biểu hiện bất thường lại chết…, bản thân anh Bâu cũng đau ốm đến lúc nằm liệt giường và nhận được sự cưu mang của xóm làng. Phóng sự không đòi hỏi cao về xây dựng tính cách nhân vật nhưng ở đây tính cách nhân vật vẫn được thể hiện rõ (chất văn học trong phóng sự). Dẫu nhân vật anh Bâu không xuất hiện trực tiếp mà chỉ xuất hiện qua điểm nhìn trần thuật của tác giả và người vợ nhưng ta vẫn thấy hiện lên một anh Bâu hiền lành nhẫn nhục thương vợ thương con, một anh Bâu sống có trách nhiệm: “…mẹ Năm cố chạy chữa để bố con tôi khỏi, bố con tôi còn trả ơn dân làng”. Hình ảnh cuối tác phẩm có lẽ mãi là nổi đau nhức nhối cho người đọc: sau cái chết của hai đứa con anh Bâu ôm mặt khóc hu hu, anh Bâu phát điên phát dại, gặp ai cũng vái lạy rồi vác cuốc ra nghĩa địa đào mộ. Vợ anh Bâu, chị Năm là một phụ nử tần tảo chịu thương chịu khó đảm đang tháo vát rất mực yêu con nhưng bất lực trước lưỡi hái tử thần. Nước mắt của người mẹ cạn khô, quặn thắt theo ngày tháng. Hy vọng rồi tuyệt vọng.

Những tình tiết được chọn lựa sắp xếp một cách hợp lí gây hiệu ứng thẩm mỹ cao. Ví như chi tiết anh Bâu kêu lên: Trời ! Tôi đi “giết người”, người báo oán tôi đây sau khi vợ anh sinh đứa con bị dị tật, lúc ấy cuống lên anh đâu có nghĩ cái quái thai là hậu họa của chất độc hóa học. Nổi đau đầu tiên anh Bâu phải nếm trải từ ngày trở về, nó quặn thắt tận tim gan nhưng nổi đau chưa dừng lại ở đó. Nhiều chi tiết khác nữa chúng ta có thể tìm thấy trong tác phẩm, có những chi tiết có sức gợi thật sâu xa như chi tiết cuối tác phẩm: anh Bâu cầm cuốc ra đào nghĩa địa và kêu gào trả con tôi đi. Hành động và lời gào thét của anh Bâu như xé nát trái tim con người, sức chịu đựng có giới hạn, nổi đau đã lên đến tột đỉnh. Có lẽ gấp trang sách lại nhưng dư âm của nó còn mãi day dứt ám ảnh ta.

Nghệ thuật dựng đối thoại cũng là điều đáng nó trong thiên phóng sự này. Những đoạn đối thoại tạo tính trực tiếp cho câu chuyện, nó như đang hiện hữu nhản tiền. Đó là cuộc họp của xóm bàn cách cứu giúp gia đình anh Bâu, sự tham gia của rất nhiều ý kiến, tác giả trông vai thư kí ghi chép lại. Những lời kể của chị Năm kể lại gia cảnh thương tâm của mình qua sự cảm nhận của tác giả thật sự gây xúc cảm mạnh cho người đọc: “Chất độc sao nó ác thế các bác ơi. Hẳn nhà em bị bom bị đạn như mấy chú cụt chân, cụt tay ở trong làng, các con em cũng đâu đến nổi đau đớn thế kia!.Các cháu không nói được nhưng giả còn trong thấy mặt bố mẹ cũng đở tủi. Vừa câm vừa mù y hệt bệnh các chị của nó, có cách gì cứu các cháu được không hả các bác?”

Cuối cùng chúng ta không thể không nói đến cái tôi trần thuật, điểm nhấn đặc sắc nhất của phóng sự này cũng là yếu tố làm nên chất văn chương rõ nét nhất, đó là một cái tôi đầy cảm xúc, thật sự đau đớn thương cảm với cảnh ngộ của nhân vật: “Rời quân ngủ sau mười năm là lính đánh bộ ở đường Chín Khe Sanh, Nguyễn Văn Bâu tưởng không bao giờ còn phải đụng đầu với chết chóc,với bom đạn. Nào ngờ chiến tranh vẫn đeo đẳng theo anh về một làng quê rất xa mặt trận”. Cái tôi tưởng chừng như hóa thân vào nổi đau nhân vật, vật vã cùng nhân vật với giọng điệu cảm thông và chia sẽ: “ Chiến tranh như con rắn đọc phục trong cơ thể anh Bâu. Nó không chỉ phun nọc độc vào trái tim bảy đứa con anh, mà còn gặm nhấm tàn phá thân thể của anh nữa. Vừa thương những đứa con qua đời, vừa lo số phận những đứa đang sống khắc khoải, người anh gầy đét, tâm tưởng lơ mơ.”. Cái tôi trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời: “Nước mắt và lòng người cứu được tâm linh và làm dịu bớt cơn đau thân thể nhưng không tẩy được chất độc lắng sâu trong gan óc con người”

Tác giả đã viết bằng cả tấm lòng bằng nổi đau và sự phẩn uất dồn lên đầu ngọn bút. Bằng khả năng cảm nhận nổi đau một cách tinh tế sâu sắc Minh Chuyên đã đưa ra trước ánh sáng những mảnh vở đau đớn của cuộc đời. Để rồi người độc phải giật mình hóa ra đằng sau lớp vỏ hòa bình có biết bao cảnh ngộ thương tâm. Chiến tranh đã đi qua nhưng lưởi hái của nó vẫn còn quét lại. Đất nước này còn biết bao những anh Bâu như thế. Còn biết bao những nổi đau cần sự chở che của cộng đồng. Nước mắt làng đã chảy, nhưng có phải tất cả mọi anh Bâu đều nhận được những giọt nước mắt của dân làng. Đâu đó vẫn còn những nổi đâu thiếu sự sẽ chia. Tác phẩm như một lời cảnh tỉnh những ai còn thờ ơ trước nổi đau đồng loại đặc biệt trước những người mang trên mình vết thương chiến tranh. Hãy cúi xuống những nổi đau và gõ vào trái tim mình hai tiếng yêu thương, đó là giá trị nhân bản sâu xa của tác phẩm bên cạnh tiếng nói lên án chiến tranh.
© 2017 Thiết kế: 0942072207